GIẢI NGỐ VỀ UNG THƯ

TÀI LIỆU CHUYÊN GIẢI NGU CHO CON GÁI (CLICK)
XEM VID PREMIUM CỰC HAY MIỄN PHÍ
NGƯỜI MỚI NÊN ĐỌC
ỦNG HỘ KEODAU.NET

Lưu ý : đây chỉ là thông tin tham khảo, không phải lời khuyên pháp y.

  1. Tài liệu giải mật của CIA

Ký sinh trùng và u ác tính giống nhau ở nhiều khía cạnh do điều kiện sống và tồn tại tương tự. Điều này đã gợi ý từ lâu ý tưởng về bản chất ký sinh của các khối u.

Các giun ký sinh sống trong ruột biểu hiện chuyển hóa yếm khí rõ rệt (1). Chúng tích tụ trong cơ thể một lượng lớn glycogen. Sự tích tụ glycogen là một trong những đặc tính chung mà chúng chia sẻ với các khối u. Mô của cả giun ký sinh đường ruột và u ung thư đều thuộc kiểu chuyển hóa amphibioitic euryoxybiotical-aerofermentor (theo thuật ngữ của Th. Brand), nghĩa là chúng được đặc trưng bởi một quá trình trao đổi chất oxy hóa không hoàn chỉnh, vừa thích nghi với điều kiện hiếu khí vừa thích nghi với điều kiện yếm khí (2).

Năm 1938, H. Mauss đã tổng hợp hợp chất alkylated aminoxanthone Myracyl D, được phát hiện có hiệu quả chống lại cả Bilharzia (sán máng) và u ác tính (3).

Hợp chất tương tự guanine Guanazolo (5-amino-7-hydroxy-1-v-triazolo [d] pyrimidine) do G. Kidder tổng hợp (4) đã ức chế sự tổng hợp nucleic acid (hoặc chính xác hơn là các dẫn xuất purine) ở infusoria (động vật nguyên sinh) vốn không thể chuyển adenine thành guanine, cũng như ở u ác tính của chuột. Điều thú vị là Guanazolo là một hợp chất quang hoạthoạt tính quay trái (dextrorotatory).

Khi nghiên cứu độc tính tương đối của atebrin enantiomorphs trên các động vật khác nhau, tác giả bài báo này cùng với O. K. Nastyukova (2) đã phát hiện ra rằng phần lớn động vật nhạy cảm hơn với atebrin quay trái (levorotatory atebrin). Tuy nhiên, các đối tượng thí nghiệm sau đây lại nhạy cảm hơn với atebrin quay phải (dextrorotatory atebrin):

  • Ehrlich’s adenocarcinoma (ung thư tuyến của chuột),
  • các loài giun tròn (nematodes),
  • động vật thân mềm mà cơ thể chúng xoắn theo hình xoắn ốc trái,
  • giun ký sinh sống trong ruột ếch.

Do đó, mô của u ác tính và giun ký sinh có thể được phân biệt với mô lành và với giun không ký sinh nhờ phản ứng ngược lại với các enantiomorphs quang học của atebrin.

2. Dr Berg

Ung thư thực chất là một loài ký sinh trùng, tin hay không thì tùy. Và phương pháp chữa trị chỉ tốn khoảng 5 đô la.

Một loại thuốc được thiết kế để diệt giun ký sinh vừa giúp ba bệnh nhân ung thư giai đoạn 4 đạt lui bệnh hoàn toàn. Tuy nhiên, không có trung tâm ung thư lớn nào chịu chạy thử nghiệm lâm sàng cho nó.

Tại sao một loại thuốc diệt ký sinh trùng lại có thể diệt được ung thư?

Ở mức độ phân tử, ung thư thực sự là một loài ký sinh trùng. Nó tiêu thụ tài nguyên của bạn, lan rộng sang vùng mới, và sử dụng cùng một cơ chế sinh tồn mà ký sinh trùng và nấm đã dùng trong hàng tỷ năm.

Năm 2025, hơn 2 triệu người Mỹ được chẩn đoán ung thư. Ung thư ở người trẻ tăng 79% trong 30 năm. Ung thư đại trực tràng đã từ vị trí thứ tư gây tử vong do ung thư ở nam giới trẻ vào những năm 90, lên vị trí số 1.

Tôi muốn nói thêm về tỷ lệ sống sót: Khi ai đó nói tỷ lệ sống sót đang cải thiện, bạn cần hiểu rằng “thành công” trong ung thư nghĩa là sống được 5 năm. Nếu bạn chết sau 5 năm, họ vẫn tính là thành công.


Hãy để tôi giải thích nền tảng về ung thư:

Trong tế bào của bạn có những thứ gọi là ti thể (mitochondria) – nhà máy sản xuất năng lượng của cơ thể. Bình thường, từ 1 phân tử glucose, mitochondria tạo ra 36 đơn vị năng lượng (ATP).

Khi mitochondria bị tổn thương do độc tố hoặc tia xạ, nó sẽ chuyển sang một con đường sản xuất năng lượng khác – một hệ thống cổ xưa, rất thô sơ và kém hiệu quả, chỉ tạo ra 2 đơn vị năng lượng từ 1 glucose. Đây chính là hệ thống mà vi khuẩn, nấm và ký sinh trùng sử dụng.

Otto Warburg (người đoạt giải Nobel) đã phát hiện ra điều này gần 100 năm trước. Đó là lý do khi chẩn đoán ung thư, người ta dùng PET scan: tiêm đường phóng xạ vào người, sau đó quét. Khu vực ung thư sẽ sáng rực vì chúng “ăn” rất nhiều đường.

Ung thư sử dụng hệ thống năng lượng cổ xưa gọi là glycolysis (quá trình phân giải đường không cần oxy). Hệ thống này tạo ra rất nhiều axit lactic, tạo môi trường mà tế bào bình thường khó sống, nhưng ung thư lại phát triển mạnh.

Ung thư cũng rất thích nghi: nó có thể sống nhờ axit amin glutamine, axit amin chuỗi nhánh, và thậm chí cả ketone ở giai đoạn muộn.


Vậy ung thư liên quan gì đến ký sinh trùng?

Hệ thống glycolysis là một trong những con đường trao đổi chất cổ nhất trên Trái Đất. Các nhà nghiên cứu đã xác định ba cơ chế sinh tồn chung mà ký sinh trùng, nấm, giun và ung thư đều sử dụng:

  1. Giàn giáo nội bào (microtubules): Ung thư và ký sinh trùng đều phân chia cực nhanh. Thuốc tẩy giun Fenbendazole bám vào giàn giáo này và phá hủy nó. Ivermectin, ngải cứu, vỏ óc chó đen, đinh hương… cũng làm tương tự (trực tiếp hoặc gián tiếp).
  2. Tắt nút tự hủy (apoptosis): Bình thường tế bào bị hỏng sẽ tự chết. Ung thư và ký sinh trùng “tắt” cơ chế này để không bị hệ miễn dịch tiêu diệt. Các thuốc antiparasitic (chống giun sán) giúp gỡ bỏ “lá chắn” này, để hệ miễn dịch có thể tiêu diệt chúng.
  3. Sử dụng glycolysis: Tất cả các thuốc và thảo dược antiparasitic chống ký sinh trùng đều chặn (trực tiếp hoặc gián tiếp) con đường này, cắt nguồn nhiên liệu của ung thư.

Nhiều nghiên cứu (chủ yếu từ Hàn Quốc, Ấn Độ) cho thấy fenbendazole tiêu diệt cả tế bào ung thư thông thường lẫn tế bào gốc ung thư (loại sống sót sau hóa trị và gây tái phát). Trong thí nghiệm trên chuột: 100% sống sót ở nhóm điều trị, 0% ở nhóm không điều trị.


Lời khuyên quan trọng:

  • Cắt bỏ đường, tinh bột tinh chế, ngũ cốc tinh chế vì chúng nuôi ung thư.
  • Ung thư rất thông minh, cần xoay vòng chế độ ăn để không cho nó thích nghi.
  • Hệ miễn dịch mới là vũ khí mạnh nhất: Vitamin D liều cao, nhịn ăn, ngủ đủ giấc, tập thể dục — tất cả đều hỗ trợ tế bào T killer và Natural Killer Cell tiêu diệt ung thư.

Tóm lại: Ung thư hành xử giống hệt ký sinh trùng, nên các thuốc diệt ký sinh trùng mới có hiệu quả với nó.

3. Liều dùng Ivermectin

Và bây giờ chúng ta đến với biểu đồ quan trọng nhất mà tôi đã tổng hợp trong năm qua, đó chính là lịch trình liều lượng của Ivermectin. Tôi khuyên rằng đối với hầu hết các loại ung thư, bạn nên bắt đầu với liều 1 mg/kg/ngày. Đó là liều khởi đầu mà tôi khuyến nghị cho hầu hết các trường hợp ung thư. Những loại ung thư đã được chứng minh là có phản ứng với Ivermectin rất đa dạng: ung thư vú, ung thư đại tràng, ung thư phổi, ung thư tụy, ung thư tế bào thận, ung thư dạ dày… Có rất nhiều loại ung thư bạn có thể thử. Tôi cũng đã thấy hiệu quả với bệnh bạch cầu. Tất nhiên, có một loại ung thư mà tôi gần như chưa thấy nghiên cứu nào về Ivermectin, đó là ung thư hạch (lymphoma). Tôi chưa tìm thấy bất kỳ bài báo nào nói về lymphoma và Ivermectin. Điều đó không có nghĩa là nó không có tác dụng, chỉ đơn giản là chưa có nghiên cứu nào được thực hiện về vấn đề này. Đây là liều khởi đầu tôi khuyên dùng. Bác sĩ Shankara Chetty đã có một bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt, PSA giảm từ 89 xuống còn 11 chỉ bằng cách dùng 45 mg Ivermectin mỗi ngày. Khi nghĩ về liều lượng: 1 mg/kg/ngày. Một người trung bình nặng khoảng 60 kg, nghĩa là bạn sẽ dùng 60 mg Ivermectin mỗi ngày.

  • Nếu dùng viên: đó là 5 viên 12 mg.
  • Nếu dùng dạng lỏng: đó là 6 ml (và 1 muỗng cà phê ≈ 5 ml, nên gần như là 1 muỗng cà phê đầy một chút).

Cách đơn giản nhất để nhớ là: 1 muỗng cà phê mỗi ngày, uống một lần. Chưa có báo cáo nào về tác dụng phụ dài hạn khi dùng liều 1 mg/kg. Có một nghiên cứu của Castro trên trẻ em bị bạch cầu dùng liều 1 mg/kg trong thời gian dài mà không thấy tác dụng phụ nào. Bạn cũng có thể bắt đầu với liều thấp hơn. Bác sĩ Tessillary báo cáo một trường hợp dùng liều chỉ 0,2 mg/kg mà vẫn thấy cải thiện rõ rệt ở một loại ung thư, các chỉ số CA 125 giảm từ 288 xuống còn 22 chỉ sau hai tháng. Có bằng chứng cho thấy tác dụng chống ung thư của Ivermectin phụ thuộc vào liều lượng – liều cao hơn có thể cho hiệu quả tốt hơn. Đối với những loại ung thư cực kỳ hung hãn như bạch cầu, ung thư tụy và ung thư não, bạn có thể cần liều cao hơn. Có một câu hỏi là Ivermectin có qua được hàng rào máu não không? Thực tế là có (vì bạn có thể gặp tác dụng phụ thần kinh), nhưng nó qua không tốt lắm. Vì vậy với ung thư não, bạn có thể cần liều cao hơn, ví dụ 2 mg/kg. Một ví dụ điển hình là trường hợp của đồng nghiệp bác sĩ Landrito: một bệnh nhân ung thư túi mật giai đoạn cuối đã uống 2 mg/kg/ngày trong 14 tháng và ung thư biến mất hoàn toàn. Cô ấy có một số tác dụng phụ về thị giác nhưng chỉ kéo dài vài ngày rồi hết. Liều cao nhất tôi từng thấy là 2,5 mg/kg. Các bác sĩ ung thư chính thống thậm chí không bao giờ đề nghị Ivermectin cho bạn. Nhưng một số người đã đẩy liều lên đến mức này. Bác sĩ Shankar Chetty cũng có bệnh nhân dùng tới 2,5 mg/kg/ngày mà không có tác dụng phụ dài hạn. Ở liều 2 mg/kg hoặc 2,5 mg/kg, bạn có thể gặp tác dụng phụ về thị giác, nhưng chúng chỉ kéo dài vài ngày, không phải dài hạn. Tôi khuyên hầu hết mọi người nên bắt đầu ở mức 1 mg/kg và sau đó tùy theo tình trạng cá nhân mà điều chỉnh tăng dần. Tóm lại, việc sử dụng Ivermectin trong ung thư rất đơn giản:

  • Liều khởi đầu điển hình: 1 mg/kg/ngày.
  • Với người 60 kg: 60 mg/ngày = 5 viên 12 mg, hoặc 6 ml dạng lỏng (khoảng 1 muỗng cà phê).

Đó là tất cả. Đây là một loại thuốc cực kỳ an toàn, đã hết hạn bằng sáng chế, có rất nhiều thuốc generic. Không ai kiếm tiền từ nó, nên hiện tại không có thử nghiệm lâm sàng nào về Ivermectin trong ung thư. Nếu bạn đang đấu tranh với ung thư, tôi thực sự khuyên bạn nên tìm hiểu về Ivermectin với liều khởi đầu 1 mg/kg/ngày. Bạn có thể uống liên tục trong nhiều tháng miễn là còn dấu hiệu ung thư hoạt động. Trong nghiên cứu của Castro, những đứa trẻ bị bạch cầu đã dùng liên tục 6 tháng. Có cả báo cáo thực tế về người dùng hàng ngày hơn một năm mà không có độc tính hay tác dụng phụ dài hạn nào.

4. Các loại thuốc khác

5. Các trường hợp thực tế

KeoDau.net - Kiếp Ngu Chấm Hết